Căn cứ khoản 2 điều 122 Luật Nhà ở năm 2014, việc cho thuê nhà ở không bắt buộc phải công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp các bên có nhu cầu.

Hợp đồng thuê nhà ở có công chứng, chứng thực hay không được công chứng, chứng thực đều có giá trị pháp lý như nhau, miễn sao hợp đồng đó tuân thủ đúng về nội dung và hình thức theo điều 121 Luật Nhà ở năm 2014.

Với hợp đồng thuê nhà ở, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng do các bên thỏa thuận; nếu không, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm ký hợp đồng.

Tuy nhiên chúng ta cần lưu ý:
– Vì không ra công chứng, chứng thực hợp đồng thuê nhà ở nên người thuê nhà ở cần kiểm tra kỹ giấy tờ của bên cho thuê trước khi ký kết hợp đồng nhằm tránh rủi ro.

– Người thuê nhà xem giấy tờ nhà và giấy tờ tùy thân của chủ nhà và người được ủy quyền để xác định rõ họ có phải chủ sở hữu hay không, căn nhà có bị thế chấp hay bị ngăn chặn gì hay không. Nếu được chủ nhà ủy quyền thì phải kiểm tra tính xác thực của giấy ủy quyền, như thời hạn ủy quyền, phạm vi ủy quyền…

– Ngoài Hợp đồng, nhớ giữa cho mình 01 bản các giấy tờ trên để có căn cứ sau này còn biết thông tin người liên hệ nếu không sẽ như ‘mò kim đáy bể”.