Người bị tòa án tuyên bố mất tích nếu còn tài sản để lại thì được người đang quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú tiếp tục quản lý tài sản của người đó và có các quyền và nghĩa vụ như sau:

  • Giữ gìn, bảo quản tài sản của người mất tích như tài sản của chính mình;
  • Bán ngày tài sản là hoa màu, sản phẩm khác có nguy cơ bị hư hỏng;
  • Thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thanh toán nợ đến hạn, nghĩa vụ tài chính khác của người bị mất tích bằng tài sản của người đó theo quyết định của Toà án;
  • Giao lại tài sản cho người bị mất tích khi người này trở về và phải thông báo cho Tòa biết; nếu có lỗi trong việc quản lý tài sản mà gây thiệt hại thì phải bồi thường;
  • Được thanh toán các chi phí cần thiết trong việc quản lý tài sản của người bị mất tích.

Thủ tục tuyên bố một người mất tích

Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Thành phần hồ sơ:

  • Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích;
  • Kèm theo tài liệu, chứng cứ để chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đã biệt tích 02 năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hoặc đã chết và chứng minh cho việc người yêu cầu đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm;
  • Bản sao quyết định của Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú (nếu có).

Thủ tục yêu cầu tuyên bố một người mất tích

  • Người yêu cầu nộp đơn đến Tòa giải án giải quyết;
  • Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn, tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên;
  • Trong thời hạn thông báo, nếu người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trở về và yêu cầu Tòa án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn
  • Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày kết thúc thông báo tìm kiếm thì Tòa án phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu;
  • Nếu xét đơn hợp lệ thì Tòa án ra quyết định tuyên bố một người mất tích; nếu có yêu cầu Tòa áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người mất tích và được chấp nhận thì phải ra quyết định áp dụng biện pháp quản lý tài sản trong quyết định tuyên bố một người mất tích.

Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của luật về hộ tịch.

Thủ tục phân chia di sản thừa kế

Sau khi Tòa án tuyên bố người mất tích thì phần tài sản của người mất tích sẽ do những thành viên trong gia đình có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng thừa hưởng.

Để tránh phát sinh tranh chấp, những thành viên trong gia đình cần họp mặt để thỏa thuận phân chia di sản thừa kế quy định tại (Điều 656 Bộ luật dân sự 2015).

Việc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được lập thành văn bản và các đồng thừa kế có quyền yêu cầu công chứng quy định tại (Điều 57 Luật công chứng 2015).

Trường hợp người bị tuyên bố mất tích không để lại di chúc và việc phân chia tài sản thừa kế ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người thừa kế thì có thể yêu cầu Tòa án phân chia di sản theo quy định pháp luật.

Theo quy định tại (Điều 651 Bộ luật dân sự 2015) quy định về người thừa kế theo pháp luật. Việc người cha trong nhà bỏ đi thì phần tài sản để lại được hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật thừa kế.

  • Hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
  • Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Hậu quả pháp lý hủy bỏ yêu cầu tuyên bố mất tích

Theo các quy định tại (Điều 70 Bộ luật Dân sự 2015), quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án sẽ được hủy bỏ khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống, nếu người đó hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có yêu cầu, Tòa án sẽ ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích đối với người đó.

Người bị tuyên bố mất tích trở về được nhận lại tài sản do người quản lý tài sản chuyển giao sau khi đã thanh toán chi phí quản lý.

Quyết định của Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 2525 03 (Nhánh 2)

Chuyên mục: Góc nhìn