Trong quan hệ thừa kế, vấn đề con ngoài giá thú có được quyền hưởng di sản hay không luôn là một câu hỏi gây nhiều tranh luận, đặc biệt khi liên quan đến quyền lợi và sự công bằng giữa các hàng thừa kế.
1. Con ngoài giá thú là gì?
Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, không còn sử dụng khái niệm “con ngoài giá thú” trong các văn bản chính thức. Thay vào đó, mọi người con đều được pháp luật công nhận bình đẳng về quyền và nghĩa vụ đối với cha mẹ, không phân biệt con sinh trong hay ngoài hôn nhân.
Tuy nhiên có thể hiểu rằng: “Con ngoài giá” thú là người con được sinh ra khi cha mẹ, không có đăng ký kết hôn hợp pháp. Có thể là do hai người độc thân không đăng ký kết hôn sinh ra; hoặc do nam nữ ngoại tình với nhau sinh ra.
(
2. Con ngoài giá thú có được hưởng thừa kế của cha, mẹ?
Căn cứ vào khoản 2 Điều 68 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
“Điều 68. Bảo vệ quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con
[...]
2. Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha mẹ của mình được quy định tại Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
[...]”
Như vậy, con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ đều có quyền, nghĩa vụ như nhau với cha mẹ của mình.
Do đó, có thể thấy, dù là con ngoài giá thú hay con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân thì đều có quyền, nghĩa vụ với cha mẹ như nhau. Bởi vậy, nếu cha mẹ chết thì con ngoài giá thú vẫn được hưởng thừa kế nếu không thuộc trường hợp bị truất quyền thừa kế hoặc từ chối di sản thừa kế.
Bên cạnh đó, căn cứ Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hàng thừa kế theo pháp luật. Theo đó, hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Như vậy, con ngoài giá thú được xác định là con đẻ của người để lại di sản nên sẽ thuộc hàng thừa kế thứ nhất và có quyền hưởng thừa kế theo pháp luật.
3. Con ngoài giá thú nhận thừa kế thế nào?
Việc nhận thừa kế hiện nay đang được thực hiện theo 02 hình thức: Theo di chúc và theo pháp luật.
- Thừa kế theo di chúc.
Việc lập di chúc để lại tài sản cho người khác là quyền của cá nhân, được quy định tại Điều 626 Bộ luật Dân sự năm 2015, trong đó bao gồm quyền chỉ định người thừa kế và phân chia di sản. Do đó, nếu con ngoài giá thú được chỉ định trong một di chúc hợp pháp thì có quyền hưởng di sản như bất kỳ người thừa kế nào khác. Trường hợp không được nêu tên trong di chúc, nhưng là con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, thì vẫn được hưởng ít nhất 2/3 suất thừa kế so với một người thừa kế theo pháp luật (căn cứ theo Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015). Tuy nhiên, người con này phải chứng minh được mình là con đẻ của người để lại di sản.
- Thừa kế theo pháp luật.
Khác với thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật được thực hiện khi không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp, và việc phân chia di sản sẽ tuân theo quy định về hàng thừa kế tại Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015. Cụ thể, pháp luật quy định ba hàng thừa kế như sau:
“Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.”
Như phân tích ở trên, pháp luật không phân biệt con trong hay ngoài giá thú. Miễn là được xác định là con đẻ của người để lại di sản, thì con ngoài giá thú cũng thuộc hàng thừa kế thứ nhất và có quyền hưởng di sản hợp pháp, trừ khi thuộc trường hợp bị truất quyền thừa kế hoặc từ chối nhận di sản (Căn cứ tại khoản 3 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015).
Từ khoá: