Thừa kế theo di chúc là nguyên tắc thể hiện sự tôn trọng tối đa đối với quyền định đoạt tài sản của cá nhân. Người lập di chúc có thể quyết định để lại toàn bộ di sản cho một số người, đồng thời loại trừ những người khác. Tuy nhiên, pháp luật không cho phép sự định đoạt này vượt quá mọi giới hạn. Đối với vợ hoặc chồng, cha mẹ, con chưa thành niên hay con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, họ vẫn có quyền hưởng một phần di sản nhất định, kể cả khi không được đề cập hoặc bị truất quyền thừa kế trong di chúc. Cùng Luật Sư Riêng tìm hiểu chi tiết để tránh bỏ sót quyền lợi hợp pháp.
Di chúc là gì? Như thế nào là thừa kế theo di chúc?
Điều 624 Bộ luật dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) ('BLDS 2015') quy định: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.
Có thể hiểu thừa kế theo di chúc là việc chuyển dịch tài sản của người đã mất cho người còn sống theo ý chí, sự định đoạt của người đó khi họ còn sống.
Ảnh. Người không được đề cập trong di chúc có thể được chia thừa kế không?
Các trường hợp thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc
Thừa kế theo di chúc là sự tôn trọng ý chí, sự tự định đoạt của người để lại di sản. Theo đó, người lập di chúc có quyền quyết định người được hưởng thừa kế, định đoạt phần tài sản cho mỗi người và có quyền không cho ai được hưởng thừa kế tài sản của mình (Điều 626 BLDS 2015). Tuy nhiên, trong một số trường hợp, pháp luật can thiệp bằng các quy định hạn chế quyền tự định đoạt này để phù hợp với phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Trường hợp hạn chế quyền tự định đoạt của người để lại di sản trong di chúc là trường hợp những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo Điều 644 BLDS 2015:
“1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.”
Như vậy, người hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc nêu trên được xác định dựa trên ba mối quan hệ: hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng với người để lại di sản. Cụ thể:
Nhóm 1: Vợ, chồng
Để xác định vợ hoặc chồng là người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc thì quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng phải là hôn nhân hợp pháp, thỏa mãn điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn theo khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Nhóm 2: Cha, mẹ
Truyền thống của người Việt là cha mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng, yêu thương con cái và con cái có trách nhiệm phụng dưỡng, chăm sóc cha mẹ khi già yếu, ốm đau. Vì vậy, Điều 69 và Điều 70 của Luật HNGĐ 2014 cũng quy định nghĩa vụ phụng dưỡng, chăm sóc. BLDS 2015 quy định cha, mẹ của người để lại di chúc là người hưởng thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc là để thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng của người chết với họ.
Nhóm 3: Con chưa thành niên và con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động
Con ở đây được xác định là cả con đẻ (xác định theo quan hệ huyết thống) và con nuôi (xác định theo quan hệ nuôi dưỡng) của người để lại di chúc. Quan hệ nuôi dưỡng ở đây không chỉ phát sinh giữa cha, mẹ nuôi mà con có thể giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng của chồng hoặc vợ nếu giữa họ có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con. Dù con đẻ hay con nuôi thì chỉ có con chưa thành niên và con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động mới thuộc các trường hợp hưởng thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc.
- Con chưa thành niên phải là người chưa đủ 18 tuổi (Khoản 1 Điều 21 BLDS 2015)
- Con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động chưa được BLDS định nghĩa nên có thể áp dụng pháp luật tương tự theo Điều 1.4 Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP để xác định: “Người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên)…”.
Những đối tượng ở 3 nhóm thỏa mãn điều kiện được nêu ở trên vẫn được hưởng di sản thừa kế mà không phụ thuộc nội dung di chúc trong trường hợp không được người để lại di chúc cho hưởng di sản hoặc được hưởng nhưng ít hơn phần di sản đáng lẽ được hưởng. Mức hưởng thừa kế quy định là hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật. Di sản được chia theo pháp luật tính một suất thừa kế theo pháp luật bằng cách lấy tổng di sản thừa kế chia cho tổng số người thừa kế ở hàng thứ nhất. Và một suất thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc là ⅔ một suất thừa kế theo pháp luật.
Ví dụ: Ông A và bà B đã kết hôn và có 2 người con chung là anh C và chị D. Khi còn sống ông A nói chuyện không hợp và thường xảy ra mâu thuẫn với bà B. Khi ông A qua đời có để lại di chúc, nêu rõ không cho bà B thừa kế và để lại toàn bộ tài sản cho các con. Sau khi biết được nội dung di chúc rằng mình bị truất quyền hưởng di sản, bà B đã làm đơn khởi kiện ra Tòa, yêu cầu phân chia di sản thừa kế của ông A. Tài sản ông A để lại là 6 tỷ đồng.
Khi này, dù ông A để lại di chúc truất quyền hưởng di sản của bà B nhưng theo quy định tại Điều 644 BLDS 2015, trong trường hợp này bà B. vẫn được hưởng một phần di sản tối thiểu bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật. Cụ thể:
- Một suất thừa kế theo pháp luật = 6 tỷ đồng / 3 (bà B, anh C, chị D) = 2 tỷ đồng;
- Phần di sản bà B được hưởng = 2 tỷ đồng x 2/3 = 1,333,333,333 đồng (1 tỷ 3)
Kết luận
Như vậy, các thành viên gia đình gần gũi như vợ chồng, cha mẹ, con cái sẽ không bị truất quyền hưởng di sản hoàn toàn bởi di chúc và họ có quyền yêu cầu phần di sản của mình ngay cả khi di chúc không nêu tên họ hoặc ghi rõ là truất quyền hưởng di sản của họ. Điều này thể hiện sự công bằng trong việc phân chia tài sản và bảo vệ quyền lợi của người thân trong gia đình.
Từ khoá: